mercredi 7 mars 2007

Tinh hinh nhân quyền tại Viet Nam theo phuc trinh cua Bo Ngoai giao Hoa Ky



Tình hình nhân quyền tại Việt Nam theo phúc trình của Bộ Ngọai giao Hoa Kỳ
2007.03.07
Thanh Quang, phóng viên đài RFA


Bộ Ngọai giao Hoa Kỳ vừa công bố bản phúc trình thường niên, đề cập tới tình hình nhân quyền trong năm 2006 tại nhiều nước trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam. Dựa theo thông tin liên hệ, Thanh Quang trình bày các chi tiết đáng chú ý trong bản phúc trính năm nay, đặc biệt là phần liên quan đến Việt Nam.

Ngoại trưởng Condolezza Rice phát biểu buổi họp báo phổ biến bản phúc trình hôm thứ ba 6-3-2007. Photo courtesy State.gov


Trong buổi họp báo phổ biến bản phúc trình hôm thứ ba, Ngọai trưởng Hoa Kỳ Condolezza Rice bày tỏ hy vọng rằng văn kiện này sẽ là nguồn thông tin cho các chính phủ và xã hội ở mọi nơi trên thế giới, và là một nguồn khuyến khích cho những ai tiếp tục đấu tranh cho hòa bình, dân chủ trên tòan cầu.
Nhiều quốc gia tiếp tục vi phạm nhân quyền
Điểm đặc biệt của bản phúc trình năm nay là phúc trình cũng nêu lên nghi vấn về thành tích nhân quyền của chính nước Mỹ, khi, một cách hy hữu, Ngọai trưởng Condolezza Rice cho rằng Hoa Kỳ ý thức là chính mình cũng “nhân vô thập tòan.”
Ở Châu Á, bản phúc trình đặc biệt chú trọng tới tình hình nhân quyền ở Trung Quốc và Miến Điện, kế đó là Bắc Hàn và Việt Nam. Phụ tá Ngọai trưởng Mỹ đặc trách về nhân quyền, ông Barry Lowenkron, cho biết rằng:

”Tình hình nhân quyền ở TQ trở nên tồi tệ trong một số lãnh vực hồi năm 2006, khi Bắc Kinh tiếp tục hành động khủng bố, đàn áp, giam giữ các ký giả, nhà văn, những nhà hoạt động cho tự do, dân chủ, tôn giáo và cả luật sư bào chữa; Internet bị kiểm soát gắt gao…”

Trong khi Miến Điện thì tiếp tục biện pháp cai trị tàn ác, với nhiều vụ hảm hiếp, tra tấn, đàn áp.

Bắc Hàn cũng bị bản phúc trình chỉ trích mạnh mẽ, cho rằng đây là một trong những chế độ tự cô lập và đàn áp nghiêm trọng nhất trên thế giới.

Phụ tá Ngọai trưởng Mỹ đặc trách về nhân quyền, ông Barry Lowenkron, phát biểu buổi họp báo phổ biến bản phúc trình hôm thứ ba 6-3-2007. State Dept photo by Michael Gross

Thái Lan, hiện do phe quân nhân kiểm soát, cũng không khỏi bị chiếu cố, khi bản phúc trình cho rằng giới cầm quyền hạn chế tự do ngôn luận, báo chí và hội họp của người dân.

Nhân quyền tại Việt Nam
Mở đầu phần liên quan đến thực trạng nhân quyền tại Việt Nam trong năm qua, bản phúc trình của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cho biết Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa VN là một nước độc đoán dưới quyền cai trị của Đảng CSVN.


Theo Bộ ngoại giao Mỹ, tại Việt Nam hiện không có sự hiện diện của các đảng chính trị hợp pháp khác. Cuộc bầu cử Quốc hội gần đây nhất, được tổ chức hồi năm 2002, không được tự do và công bằng, vì tất cả ứng cử viên đều được chọn bởi Mặt trận Tổ Quốc vốn là một tổ chức ngọai vi của đảng CS.



Vẫn theo bản phúc trình của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, thành tích nhân quyền của Việt Nam trong năm qua vẫn chưa sáng sủa. Một số viên chức chính phủ, đặc biệt ở cấp địa phương, tiếp tục vi phạm nhân quyền, mặc dù chính phủ trung ương có nỗ lực ứng phó với mối quan ngại này, nhất là liên quan lãnh vực tôn giáo.

Bản phúc trình cho biết tiếp rằng phong trào đối lập chính trị ở Việt Nam chính thức bị ngăn cấm, và một số nhà hoạt động tích cực bị bắt giam. Nhà cầm quyền tìm cách siết chặc việc kiểm soát báo chí và Internet. Cảnh sát thường xuyên đàn áp nghi can khi bắt bớ, giam giữ và thẩm vấn họ.



Nhiều cá nhân bị giam cầm độc đóan chỉ vì hoạt động chính trị. Điều kiện lao xá vẫn còn tồi tệ nghiêm trọng. Nói chung lực lượng an ninh hoat động mà không sợ bị trừng phạt. Nhiều người bị giam không được xét xử nhanh chóng và công bằng.
Nhà nước Việt Nam hạn chế quyền riêng tư của người dân cũng như các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội. Nhà cầm quyền tiếp tục ngăn cấm các tổ chức nhân quyền độc lập. Tình trạng bạo hành và kỳ thị phụ nữ vẫn tiếp diễn. Một số nhóm sắc tộc thiểu số bị đối xử phân biệt trong xã hội. Chính phủ tiếp tục hạn chế quyền của công nhân, nhất là quyền tổ chức độc lập.



Vẫn theo bản phúc trình thì công cuộc cải cách kinh tế ở Việt Nam cùng mức sống của người dân được cải thiện khiến làm giảm đi quyền kiểm soát của đảng và nhà nước trong sinh hoạt hàng ngày.

Ngòai những nước vừa rồi, bản phúc trình của Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng đề cập tới tình hình nhân quyền đáng ngại tại nhiều nước khác, từ Ấn Độ, Đông Timor tới Afghanistan, Iraq.



Thông tin trên mạng:
- Country Reports on Human Rights Practices - 2006 - Vietnam
Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia


Các tin, bài liên quan
Vợ giáo sư Nguyễn Chính Kết thuật lại lúc công an đến đọc lệnh truy nã lúc ông không có ở nhà
Việt Nam bác bỏ phúc trình về nhân quyền của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ
Human Rights Watch nói gì về vụ bắt giữ Linh mục Nguyễn Văn Lý?
Linh mục Nguyễn Văn Lý sắp bị khởi tố
Mặc dầu đã có nhiều tổ chức quốc tế lên tiếng bênh vực, Luật sư Bùi Thị Kim Thành vẫn còn bị giam giữ
Tình trạng nguy cấp về sức khoẻ của nhà báo Nguyễn Vũ Bình
Chủ tịch Sáng hội Rafto trả lời phỏng vấn RFA về chuyện bị cấm vào Việt Nam
Nhiều dấu hiệu "quan ngại" được phát hiện ngay tại tư gia của bác sĩ Phạm Hồng Sơn
Ky sư Bạch Ngọc Dương bị hành hung trên đường phố Hà Nội

mardi 6 mars 2007

Lac quan va bi quan trong chuyen vieng tham HaNoi cua Vatican

Mức độ lạc quan và bi quan trong chuyến viếng thăm Hà Nội của phái đoàn Vatican
2007.03.06

Nguyễn Khanh, phóng viên đài RFA

Trong mục đích tìm hiểu dư luận về nhân chuyến viếng thăm Hà Nội của phái đoàn Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh Vatican, Ðài Á Châu Tự Do chúng tôi đã liên hệ với ông Ðỗ Mạnh Tri, một trí thức Công Giáo được mến trọng.

Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Tải xuống để nghe

Thứ trưởng Ngoại giao Vatican Pietro Parolin (phải) và Đức ông Louis Mariano trong buổi gặp mặt Phó trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Nguyễn Thế Danh tại Hà Nội hôm 6-3-2007. AFP PHOTO > Xem hình ảnh phái đoàn Vatican đến Hà Nội hôm 5-3-2007.">>> Xem hình ảnh phái đoàn Vatican đến Hà Nội hôm 5-3-2007.

Ông hiện đang cư ngụ ở Paris, từng là Chủ Biên Tạp Chí “Tin Nhà” chuyên phổ biến tin tức liên quan đến hiện tình Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Cuộc phỏng vấn chúng tôi gửi đến quý thính giả sau đây do Nguyễn Khanh.

Khó lạc quan

Nguyễn Khanh: Tòa Thánh Vatican gửi phái đoàn vào Việt Nam nói chuyện bang giao với Hà Nội. Ông nghĩ gì trước tin này? Ông lạc quan, ông bi quan? Mức độ lạc quan hoặc bi quan của ông tới chừng nào?

Đỗ Mạnh Tri: Tôi nghĩ rằng mình vẫn phải hy vọng có những bước tiến, nhưng trong tình thế hiện tại, nhất là những vụ việc mới xảy ra trong những ngày qua thì khó có thể lạc quan, cho dù mình không bi quan.

Tôi thấy khó lạc quan vì cách đối xử của chính quyền, dù vẫn hy vọng phái đoàn Tòa Thánh sang Việt Nam có thể đem lại một cái gì mới hơn.

Nguyễn Khanh: Cái mới hơn mà ông muốn nói đến là gì?
Tôi nghĩ rằng mình vẫn phải hy vọng có những bước tiến, nhưng trong tình thế hiện tại, nhất là những vụ việc mới xảy ra trong những ngày qua thì khó có thể lạc quan, cho dù mình không bi quan. Tôi thấy khó lạc quan vì cách đối xử của chính quyền, dù vẫn hy vọng phái đoàn Tòa Thánh sang Việt Nam có thể đem lại một cái gì mới hơn.
Ông Đỗ Mạnh Tri

Đỗ Mạnh Tri: Cái mới hơn là hy vọng phái đoàn Tòa Thánh mở ra một cái viễn tượng mới cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói riêng, và cho dân tộc Việt Nam nói chung. Với Giáo Hội, điều mà người công giáo Việt Nam và cả Tòa Thánh đều mong muốn là quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo được hoàn toàn tôn trọng tại Việt Nam.

Khi người dân có quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, được tôn trọng thì tất nhiên những quyền khác của con người cũng sẽ được tôn trọng ở Việt Nam. Ðó là một đòi hỏi trường kỳ, luôn còn đó. Việc Tòa Thánh đi lại, thương thuyết với Việt Nam cũng chỉ nhắm vào mục tiêu này.

Từ trước đến giờ, dù đã có những bước tiến nhỏ, nhưng ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo và các quyền tự do khác của con người vẫn bị hạn chế, và có thể nói rằng trong nhiều trường hợp cụ thể, đã bị chà đạp trắng trợn tại Việt Nam.

Tạo điều kiện thuận lợi

Nguyễn Khanh: Có nhiều người nói rằng tiến trình bang giao giữa Tòa Thánh với Việt Nam là điều đương nhiên sẽ đến và sẽ tạo các điều kiện thuận lợi hơn cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Ông có đồng ý với nhận định này hay không?

Đỗ Mạnh Tri: Bảo tiến trình bang giao giữa Hà Nội và Tòa Thánh Vatican đương nhiên sẽ xảy ra là điều tôi không có chắc, là vì cuộc gặp gỡ mà người ta thường hay gọi là cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Ðức Giáo Hoàng Biển Ðức XVI hôm 25 tháng Giêng vừa qua tuy rằng rất nổi ở bề ngoài, nhưng khi xét đến thực chất thì lại không được như vậy.

Vì ngay sau khi cuộc họp đó xong thì phía Việt Nam đưa tin cho biết Ðức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Tarcisio Bertone -tức là vị Thủ Tướng của một quốc gia- muốn thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa đôi bên, thì Thủ Tướng Việt Nam đồng ý điều đó, nhưng lại nói để tiến tới bang giao thì hai bên phải tiếp tục đàm phán.

Ðàm phán những gì? Ðàm phán về lộ trình của những cuộc thương thuyết dẫn đến bang giao. Như vậy, phía Tòa Thánh muốn có quan hệ chính thức, nhưng phía Việt Nam thì vẫn muốn giữ nguyên như cũ.

Bởi vì tìm ra lộ trình đàm phán dẫn đến thiết lập bang giao là điều Tòa Thánh Vatican đã làm với Hà Nội từ năm 1990, khi Ðức Hồng Y Etchegaray chính thức dẫn phái đoàn Tòa Thánh sang tiếp xúc với Hà Nội.

Thứ trưởng Ngoại giao Vatican Pietro Parolin trong buổi gặp mặt Phó trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Nguyễn Thế Danh tại Hà Nội hôm 6-3-2007. AFP PHOTO *

Như thế chúng ta thấy sau khi Việt Nam thu được kết quả tốt sau chuyến viếng thăm Vatican của Thủ Tướng Dũng, sau khi được báo chí, mọi người chú ý đến, thì họ bỏ rơi luôn việc thiết lập bang giao giữa hai bên. Thành ra theo tôi nghĩ, phía muốn có quan hệ chính thức là Vatican chứ không phải là Việt Nam.

Vì thế, phái đoàn Tòa Thánh lần này sang Việt Nam chỉ để tiếp tục thương thuyết như cũ, và đòi hỏi của Tòa Thánh vẫn là quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng không chỉ cho người Công Giáo mà còn cho tất cả những người Việt Nam. Ðó là điều Hà Nội không thể chấp nhận được, vì mâu thuẫn với cái đòi hỏi, các mục tiêu của Hà Nội là độc quyền cai trị.

Mối bang giao Vatican và Việt Nam

Nguyễn Khanh: Nghe ông trình bày, tôi có cảm tưởng là bang giao giữa Tòa Thánh Vatican và Việt Nam sẽ không thành. Có phải ý ông như vậy không?

Đỗ Mạnh Tri: Có thể thành hình, nhưng hiện thời tôi thấy đường còn dài lắm. Chính quyền Hà Nội không ước muốn gì hơn là kéo dài thời gian thương thuyết. Thứ hai là Hà Nội thấy Vatican cần củng cố hàng giáo phẩm ở Việt Nam, điều chủ yếu là bổ nhiệm các giám mục, truyền chức linh mục, tuyển chọn chủng sinh.

Những điều này Hà Nội họ đâu có cần, nhưng phía Giáo Hội Công Giáo thì lại cần, và vì cần nên cũng phải nhượng bộ phần nào. Chẳng hạn như tuyền chọn chủng sinh, truyền chức linh mục thì phải qua chính quyền, nhưng nhất là việc bổ nhiệm Giám Mục thì từ trước đến giờ trên nguyên tắc Tòa Thánh bổ nhiệm Giám Mục nhưng vị Giám Mục đó có được chấp nhận hay không là tùy ý Hà Nội. Ðó là một thí dụ.

Thí dụ thứ hai là ở Việt Nam bây giờ nhà thờ, chùa chiền được xây nhiều lắm, lễ lạc tôn giáo vẫn phải xin phép nhưing được khuyến khích, thành ra đứng ngoài nhìn vào thì thấy có vẻ tự do lắm.

Chúng ta phải hiểu là họ để cho những khoảng cách khá lớn về tự do tôn giáo, nhưng họ vẫn tìm cách kiểm soát, và họ cũng tìm cách vận dụng quốc tế để thế giới thấy là Việt Nam có tự do tôn giáo, và về phía tín đồ Việt Nam thì họ thấy cũng thoải mái, và khi thấy thoải mái thì họ để cho chính quyền yên.

Vì thế phận sự của phái đoàn Tòa Thánh nói riêng và của Cộng Ðồng Công Giáo nói chung là phải làm sao để cuộc thương thuyết dù không thành công ngay, nhưng vẫn mở ra được những bước tiến vừa có lợi cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, đồng thời vừa có lợi cho dân tộc Việt Nam.

Nếu Giáo Hội Công Giáo được một điều gì có vẻ như được ưu đãi trong khi về thực chất, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, hay nói chung nếu công lý vẫn còn bị chà đạp thì những gì Công Giáo được hưởng như một thứ ơn huệ người ta ban cho sẽ gây bất lợi cho chính Công Giáo nói riêng và cho đất nước Việt Nam nói chung.

Ông Đỗ Mạnh Tri



Cộng Ðồng Công Giáo

Nguyễn Khanh: Ông vừa nói đến Cộng Ðồng Công Giáo. Thưa ông, Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam phải làm gì?

Đỗ Mạnh Tri: Trước hết, Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam phải là một Cộng Ðồng Công Giáo. Tôi nói như thế thì có thể quá mạnh, nhưng vấn đề của người Công Giáo không phải là đông hay không đông, cũng chẳng phải là mạnh hay là yếu, mà là sống trong niềm tin của mình.

Hồi năm 1980, trong thư của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam có viết là “Sống Phúc Âm Giữa Lòng Dân Tộc”. Có nhiều cách hiểu về câu này lắm, riêng theo tôi, tôi hiểu “Sống Phúc Âm Giữa Lòng Dân Tộc” có nghĩa là sống với đòi hỏi của Tin Mừng trong nơi mình sống, ở hoàn cảnh mình sống, và sống Tin Mừng trong thời điểm mình sống.

Sống Tin Mừng hôm nay ở Việt Nam thì tôi thấy có những việc rất đáng thán phục, chẳng hạn như lo cho các em bé bệnh tật, mở cô nhi viện, lo cho những người bị xã hội đẩy ra rìa.

Những điều đó rất đáng thán phục. Mình phải có cái lòng tha thiết với những người bị đau khổ, nhưng chính mình còn phải làm thế nào để thay đổi cái căn nguyên của đau khổ. Mình phải thương những nạn nhân của đàn áp bất công, nhưng nếu chỉ thương mà không nghĩ đến làm cách nào để xã hội có công bằng, công lý, thì chính mình có lỗi.

Tôn giáo sẽ chỉ là một liều thuốc xoa dịu con người, và nếu xoa dịu con người thì chính nạn nhân sẽ dễ dàng tiếp tục chịu đựng những bất công. Làm như vậy là hoàn toàn bất công với chính nạn nhân, bởi vì mọi người phải làm việc để tẩy trừ căn nguyên gây nên bất công. Phải thẳng thắn nói ra những điều phi lý, bất công ở Việt Nam. Ai có quyền đàn áp trong xã hội Việt Nam lúc này?

Ðàn áp là công an, quân đội, đàn áp là lực lượng cua chính quyền. Vấn đề không phải là của riêng người công giáo, mà là của cả xã hội. Khi chính quyền làm bậy, mọi người đều phải lên tiếng.

Nguyễn Khanh: Xin cám ơn ông Ðỗ Mạnh Tri.

---------------------------
Các tin, bài liên quan
Nhận định của LM Chân Tín về chuyến viếng thăm VN của phái đoàn Vatican
Phái đòan ngoại giao Tòa thánh Vatican đến Hà Nội
Phái đoàn Tòa thánh Vatican sắp sang thăm Việt Nam
Hà Nội và Vatican thỏa thuận thiết lập quan hệ ngoại giao
Ý nghĩa cuộc gặp giữa Đức Giáo Hoàng với TT Nguyễn Tấn Dũng
Thời sự Việt Nam trong tuần
Thủ tướng Việt Nam yết kiến Đức giáo hoàng

Cảm nhận về cuộc gặp giữa Thủ tướng VN và Đức giáo hoàng

Vatican neu v/d Lm Nguyen Van Ly voi phia VN

Đại diện Vatican nêu vấn đề LM Nguyễn Văn Lý với phía Việt Nam
2007.03.06
Nghe bản tin 9 giờ tối 6-3
Tải xuống để nghe

Linh mục Nguyễn Văn Lý. RFA file photo.

Đại diện ngoại giao Tòa thánh Vatican hôm nay đã nêu vấn đề Linh mục Nguyễn Văn Lý với phía Việt Nam trong cuộc gặp tại Hà Nội. Hai bên cùng đã thảo luận về lộ trình nhằm bình thường hóa các quan hệ song phương.

Các thành viên phái đoàn Vatican cho báo chí biết chuyến đi của đức ông Pietro Parolin đến Việt Nam đã được hoạch định trước khi chuyến viếng thăm Vatican của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được lên kế hoạch.

Hôm nay, đức ông Pietro Parolin, thứ trưởng Ngoại giao của Tòa Thánh Vatican, cho báo chí biết dù chưa thỏa thuận và hoàn tất lộ trình, nhưng Ngài biết có khả năng tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

Ngoài ra, Đức ông Pietro Parolin còn cho biết đã nêu vấn đề Linh mục Nguyễn Văn Lý ở Huế, bị chính quyền Việt Nam truy tố về tội tuyên tuyền chống phá nhà nước.
Phái bộ Vatican do Đức ông Pietro Parolin hướng dẫn sẽ lưu lại Việt Nam cho đến ngày Chủ nhật 11 tháng Ba.

------------------------------------

Tiếng Việt

© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Mức độ lạc quan và bi quan trong chuyến viếng thăm Hà Nội của phái đoàn Vatican
Nhận định của LM Chân Tín về chuyến viếng thăm VN của phái đoàn Vatican
Phái đòan ngoại giao Tòa thánh Vatican đến Hà Nội
Human Rights Watch nói gì về vụ bắt giữ Linh mục Nguyễn Văn Lý?
Phái đoàn Tòa thánh Vatican sắp sang thăm Việt Nam

Muc di'ch van dang sau vu bat giu va khoi to Lm NV Ly'

Mục đích đằng sau vụ bắt giữ và khởi tố Linh mục Nguyễn Văn Lý

2007.02.27

Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA

Thông tấn xã Việt Nam và báo Công An Nhân Dân hôm qua cho hay cơ quan điều tra tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định khởi tố linh mục Nguyễn Văn Lý về tội tuyên truyền, cấu kết với các phần tử phản động, cực đoan để chống đối nhà nước. Mặt khác, quyết định thay đổi nơi quản chế linh mục Lý cũng được ban hành cùng ngày.

Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này

Tải xuống để nghe

Linh mục Nguyễn Văn Lý. File Photo

Những diễn tiến này đã được sự quan tâm sâu sắc của dư luận, nhất là những người đang đấu tranh cho dân chủ, mặc dù có những người ở trong nước có khi chưa bao giờ nghe tiếng linh mục Nguyễn Văn Lý. Mời quý vị nghe thêm chi tiết qua phần trình bày của Đỗ Hiếu.

Báo chí trong nước trích dẫn bản tin của Thông tấn Xã Việt Nam nói, ông Nguyễn văn Lý đã bị kết án 10 năm tù giam, vào năm 1983, sau đó lãnh thêm 15 năm tù giam hồi năm 2001 về tội chống phá chế độ.

Sau khi được nhà nước đặc xá tha tù, tháng 2 năm 2205, đến nay ông Lý đã 14 lần vi phạm lệnh quản chế, đi khỏi nơi cu trú khi chưa được phép của chánh quyền cơ sở.
Lúc đến kiểm tra nơi ở của ông Lý, hôm mồng 2 Tết, công an thu giữ 6 máy vi tính, 6 máy in, hàng chục điện thoại kết nối Internet, trong đó có 136 Sim điện thoại di động và trên 200 kí lô giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc thành lập, công bố cương lĩnh các tổ chức phản động trong và ngoài nước để chống đối đảng và chánh phủ, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nhằm dập tắt các phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam

Qua câu chuyện với đài Á Châu Tự Do chúng tôi, từ Hà Nội bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một nhân vật bất đồng chính kiến từng bị ngồi tù nhiều năm về tội danh gọi là “làm gián điệp” nhưng sự thật, bác sĩ Sơn chỉ phiên dịch và phổ biến trên Internet tài liệu “thế nào là dân chủ” trích từ web site của sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, nhấn mạnh rằng, việc Hà Nội khởi tố linh mục Lý về tội tuyên truyền chống nhà nước là nhằm dập tắt các phong trào đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam ngày càng lớn mạnh, gây quan ngại cho nhà nước.

Kế đó, một trong ba vị đại diện ký tên trong các tuyên ngôn của khối 8406, ngoài linh mục Nguyễn Văn Lý ở Huế và cựu sĩ quan Trần Anh Kim, ở Thái Bình, ông Phương Nam Đỗ Nam Hải nói, khối 8406 đang tích cực vận động trên các diễn đàn dân chủ và trong công luận quốc tế để yêu cầu Hà Nội sớm trả tự do cho linh mục Nguyễn Văn Lý cũng như các nhân vật đấu tranh khác hiện còn trong vòng lao lý.

Một sự vu cáo

Tin tức do báo Người Lao Động đăng tải nguyên văn như sau, “Trước Tết Đinh Hợi, ông Nguyễn Văn Lý cùng một số đối tượng cực đoan, phản động khác âm mưu xúc tiến, bàn bạc, thống nhất, liên kết giữa đảng Thăng Tiến Việt Nam và đảng Vì Dân, của các tổ chức người Việt ở nước ngoài, để lập thành cái gọi là Liên đảng Lạc Hồng.”

Đài chúng tôi liên lạc với ông Nguyễn Công Bằng, đại diện văn phòng liên lạc đảng Lạc Hồng ở hải ngoại và được ông cho biết, linh mục Nguyễn Văn Lý chỉ làm cố vấn cho đảng, chứ không phải là người chủ trương hay thành viên của Lạc Hồng. Đây là một sự vu cáo để buộc tội linh mục Lý.

RSF, tức tổ chức phóng viên không biên giới tại Paris, Pháp cũng phản đối hành vi đàn áp của Hà Nội đối với linh mục Nguyễn Văn Lý. Trong cuộc trao đổi với phóng viên ban Việt Ngữ chúng tôi, ông Vincent Brossel, đại diện RSF đặc trách Châu Á khẳng định, những cáo buộc mà Hà Nội gán ghép cho linh mục Lý là vô căn cứ.

Ông Vincent Brossel nói, đây không phải là tội hình sự theo như cáo buộc của nhà nước Việt Nam, mà là những hoạt động đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam, mà linh mục Nguyễn Văn Lý theo đuổi lâu nay.

RSF sẽ tức khắc vận động với liên hiệp quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế, các chánh phủ có quan hệ ngoại giao với Hà Nội và với tòa thánh Vatican để thúc dục Hà Nội trả tự do vô điều kiện cho linh mục Lý.

Đài Á Châu Tự Do xin cám ơn bác sĩ Phạm Hồng Sơn, kỹ sư Phương Nam Đỗ Nam Hải, ông Nguyễn Công Bằng và ông Vincent Brossel đã dành thời giờ cho ban Việt Ngữ chúng tôi.

Tiếng Việt

© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Dư luận chú tâm đến vụ Linh mục Nguyễn Văn Lý bị truy tố
Linh mục Nguyễn Văn Lý sắp bị khởi tố
Linh mục Nguyễn Văn Lý bị công an bắt đưa đi khỏi Nhà Chung ở Huế
Kháng thư về việc Hà Nội đàn áp giáo hội Thiên Chúa Giáo ở Huế
Công an phong tỏa Nhà Chung thuộc Tổng giáo phận Huế
Nhiều dấu hiệu "quan ngại" được phát hiện ngay tại tư gia của bác sĩ Phạm Hồng Sơn
Ky sư Bạch Ngọc Dương bị hành hung trên đường phố Hà Nội
Kỷ sư Bạch Ngọc Dương thuật lại chuyện bị công an hành hung
Luật sư Lê Thị Công Nhân kể lại sự việc bị công an bố ráp, bắt giữ
Gửi trang này cho bạn
--------------------
Ðăng ký bản tin Ban Việt Ngữ
Giúp nghe đài RFA trên mạng »
Tải và cài đặt Audio Player »
Ăng-ten chống phá sóng »

Radio Free Asia
2025 M Street NW, Suite 300, Washington DC 20036, USA 202-530-4900 vietweb@rfa.org RFA Jobs
© 2005 Radio Free Asia

Keu goi lay ngay 30/4 lam Ngay sa'm hoi va chu'c sinh toan quoc

Thý kêu gọi lấy ngày 30.4 làm "Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc"


2000-04-25 | Thích Huyền Quang | Vịên Tăng Thống


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

VIỆN TĂNG THỐNG


Phật lịch 2543 Số 02/VTT/VP


Ðồng kính gửi :
Ông Lê Khả Phiêu, Tổng bí thư Ðảng Cộng sản Việt Nam
Ông Trần Ðức Lương, Chủ tịch CHXHCNVN
Ông Phan Văn Khải, Thủ tướng CHXHCNVN
Ông Nông Ðức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội CHXHCNVN



Nghĩa Hành, ngày 21 tháng 4 năm 2000


Thưa quý Ngài,

Từ hơn một tháng qua Ðảng và Nhà nước bắt đầu tổ chức ăn mừng ngày kết thúc chiến tranh 30.4.1975. "Ðại thắng mùa xuân", "Giải phóng miền Nam", "Thống nhất đất nước", "Ðộc lập và hòa bình", v.v... sẽ là những đề tài được ca ngợi.

Nhân danh Viện Tăng thống và Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi muốn nói lên những điều mà có lẽ Ðảng và Nhà nước sẽ không có cơ hội nhắc tới trong dịp Kỷ niệm 25 năm này.


Xin hãy nghĩ đến những người đã chết và để tâm lo cho gia đình họ

Hai điều tôi mong được quý Ngài lưu tâm, là những người tử vong, tàn tật vì cuộc chiến, và quyền sống của người dân với đầy đủ các quyền tự do căn bản chưa được công nhận.

Theo số liệu chính thức của Nhà nước, trong cuộc chiến vừa qua có ba triệu người chết, 300.000 bộ đội mất tích chưa tìm thấy mộ phần. Trong thực tế, số liệu này còn cao hơn gấp bội. Chưa kể hằng triệu người tàn tật, hằng triệu gia đình có con em chết trận không được nâng đỡ hay đền bù xứng đáng. Chưa kể số phận đông đảo binh sĩ tử vong hay tàn tật thuộc miền Nam cũ chưa hề được nhắc nhở như con dân một nước, dù chiến tranh chấm dứt từ lâu, dù lưỡng cực phân tranh trên thế giới đã cáo chung. Chưa kể nạn nhân chết oan ức hoặc bị hành hạ tàn bạo trong thời Cải cách Ruộng đất, mà con số 700.000 người đã được các cán bộ trong cuộc tiết lộ. Chưa kể nạn dân bị tàn sát trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, đặc biệt tại Huế. Chưa kể trên 100.000 người bị hành quyết trong các Trại Cải tạo, và gần một triệu người bỏ thân trên biển cả khi vượt biển tìm tự do. Biết bao dâu bể thảm sầu trong một bài tính cộng.

Ðó là những người đã chết hoặc sống trong phũ phàng, quên lãng.


Chọn lựa duy nhất : Vào tù hay vào guồng máy Ðảng

Nhắc đến quyền sống của người dân với đầy đủ các quyền tự do căn bản, tôi chợt nhớ lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh : "Ðộc lập mà dân không được tự do, không được hạnh phúc, thì độc lập không có nghĩa gì". Sự thật ngày nay, 80% nông dân và người lao động sống trong cảnh bần hàn, đói khổ. Sung túc bề ngoài chỉ thấy ở vài thành phố lớn, làm màu mè cho khách du lịch hay những nhà ngoại giao phương Tây, nhằm cầu viện trợ kinh tế. Sung túc nói đây là sung túc trong tham nhũng và chụp giựt của nhau, chứ chưa là đời sống ổn định thái hòa của một xã hội an sinh.

Muốn biết quốc gia thịnh suy như thế nào, chỉ cần nhìn vào đời sống của một người dân thường, một đoàn thể, một tôn giáo. Hiện tại ở nước ta, đoàn thể hay tôn giáo không được quyền tự do tồn tại, vì điều 4 trên Hiến pháp quy định sự độc tôn của tư tưởng Mác Lê-nin, và độc quyền cai trị của Ðảng Cộng sản. Mọi hình thái sinh hoạt của đoàn thể, tôn giáo ngoài chủ nghĩa cộng sản đều bị loại trừ. Con người Việt ở đầu thế kỷ 21 chỉ còn hai chọn lựa : vào nhà tù hay vào guồng máy Ðảng.

Khổ thay khi vào guồng máy Ðảng, con người chẳng còn được hiện hữu theo cá tính tự do của họ. Có miệng không được nói, có đầu óc không được suy nghĩ, có trái tim không được thương yêu nòi giống và quê hương theo quan điểm riêng biệt.

Còn vào nhà tù hay trại cải tạo thì được tự do suy nghĩ một mình, tự do ăn nói một mình. Song tự do như thế là tự do di động trong mồ sống, chẳng ai biết chẳng ai hay, vô tích sự với xã hội, nhân quần. Tự do theo kiểu này, khi nhân phẩm đã bị giải thể, có khác chi thứ tự do của loài trùn quằn quại trong lòng đất ?


Lời tra vấn cho nền văn hiến Việt và sự sinh tử cho mỗi con người

Thưa quý Ngài,

Là Tăng sĩ Phật giáo, với 83 tuổi đời, tôi không được sống và hoằng dương giáo lý Từ bi của đức Phật cho đồng bào tôi. Từ dưới thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ngày nay, tôi chỉ biết mùi vị của nhà tù. Bởi cớ gì một công dân, một người tôn giáo như tôi không được sống trong cảnh tự do ? Và qua tôi, một Giáo hội dân lập có truyền thống 20 thế kỷ trên đất nước này, là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, không được tự do sinh hoạt, như Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc quy định và bảo đảm ?

Câu hỏi tôi đặt ra đây không là sự oán hận cá nhân hay lời than phiền của một tôn giáo. Mà là lời tra vấn thống thiết về tiền đồ của nền văn hiến Việt, và sự sinh tử cho mỗi con người. Là nạn nhân và chứng nhân lịch sử 55 năm qua, tôi muốn được thấy đất nước đổi thay trong khi mình còn sống. Chứ không muốn từ giả cõi đời với hình ảnh của một chính thể bất biến trong chủ trương kỳ thị và đàn áp tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội cùng mọi quyền tự do căn bản của nhân quyền.


10 ngón tay chặt 5 ngón : tiêu diệt Trí, Phú, Ðịa, Hào và Tôn giáo thời Việt Minh

Năm 1950, sống ở Liên khu 5 vào thời Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Cải cách Ruộng đất, tôi đã từng nghe cán bộ và loa phóng thanh ra rả ngày đêm kêu gọi nhân dân tiêu diệt năm thành phần xã hội "Trí, phú, địa, hào, và tôn giáo lưu manh". Mười ngón tay mà chặt mất năm thì còn lại gì ? Năm 1951, ông Nguyễn Duy Trinh, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu 5, đại diện Chính phủ Trung ương, tuyên bố rằng : "Phật giáo đã đến lúc cáo chung". Ông Trinh nêu đích danh Phật giáo, không nhắc nhở hay công kích các tôn giáo khác. Thế là sang năm 1952, chính quyền kháng chiến bắt quần chúng Phật tử phải rời bỏ hàng ngũ Phật giáo để sáp nhập vào Liên Việt, một tổ chức ngoại vi của Ðảng. Tôi phản đối, liền bị bắt giam tại Quảng Ngãi, Hội Phật giáo Cứu quốc của chúng tôi bị giải tán. Nhờ có Hiệp định đình chiến Genève năm 1954, tôi mới được trả tự do. Giấy phóng thích không ghi tôi phạm tội gì.


Kỳ thị và đàn áp Phật giáo sau ngày 30.4.1975

Sau ngày 30.4.1975, chính quyền Cách mạng lên ngôi, ai cũng tưởng mọi thành phần dân tộc, mọi tầng lớp nhân dân sẽ được yên ổn làm ăn, tự do sinh họat trong tinh thần hòa hợp hòa giải ghi trong Hiệp định Paris. Nhưng không, chuyện cũ tái hiện. Thành phần đông đảo quần chúng là Phật giáo đồ, tổ chức có truyền thống dân tộc và quy mô là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, là những nạn nhân bị kỳ thị và bị đàn áp trước tiên. Mặc dù lập trường của Giáo hội chúng tôi trước sau như một : dân tộc, hòa bình, từ bi, cứu khổ.

Chính sách kỳ thị và đàn áp thể hiện qua việc bắt Tăng Ni hoàn tục, bắt họ đi kinh tế mới, đi nghĩa vụ sang chiến trường Kampuchia hay đem giam vào trại Cải tạo ; chiếm đoạt tại Saigon và trên khắp các tỉnh thành ở miền Nam tất cả các cơ sở tự viện, gia ốc của Giáo hội, các cơ sở văn hóa, giáo dục, xã hội, kinh tế, viện đại học Vạn Hạnh, hệ thống trường trung, tiểu học Bồ Ðề, trường Thanh niên Phụng sự xã hội, cơ quan từ thiện, nhà nuôi trẻ, cô nhi viện, đất chùa, kinh sách, v.v... . Khiến cho 12 Tăng Ni đã phải tự thiêu tập thể tại Chùa Dược Sư ở Cần Thơ ngày 2.11.1975 để phản đối và yêu sách quyền tự do tôn giáo.

Trong bức thư đề ngày 20.9.1975, mang số 0278-VHÐ/VP, nhân danh Viện Hóa Ðạo gửi ông Chủ tịch Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam (kính quá Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân Quản Saigon - Gia định), tôi đã yêu cầu chấm dứt hành động đập phá tượng Phật. Trong thư, tôi nêu rõ 3 trường hợp cụ thể phá tượng Phật tại chùa Bửu Long ở Sóc Trăng ngày 2.9.75 ; đặt mìn phá tượng Phật Quan Âm lộ thiên cao 9 thước tại đồi Phú Hải ở Phan thiết ngày 11.9.75 ; đặt mìn phá tượng Phật Quan Âm tại Biển Hồ ở Pleiku ngày 11.9.75.

Tình trạng càng lúc càng tệ hại, nên ngày 17.3.1977 tôi lại nhân danh Viện Hoá Ðạo viết thư, mang số 044/VHÐ/VP, gửi Thủ tướng Phạm Văn Ðồng, nói lên chính sách đàn áp tôn giáo quy mô tại miền Nam cũ. Kèm thư, tôi nêu rõ 88 trường hợp đàn áp cụ thể và các vụ cưỡng chiếm văn phòng trụ sở Giáo hội tại 29 tỉnh thành : Phú bổn, Long khánh, Khánh hòa, Nhatrang, Ðà Nẵng, Quảng ngãi, Bình thuận, Sóc trăng, Chương thiện, Saigon, Thủ đức, Long châu tiền, Kiên giang, Tuyên đức, Gia lai, Kontum, Pleiku, Ban Mê thuộc, Ðịnh tường, Phan thiết, Bình tuy, Hậu giang, Kiến phong, Thuận hải, Ðồng nai, Bình chánh, Biên hòa, Long an, Minh hải. Việc tàn phá các Phật đài tôn nghiêm vẫn tiếp diễn. Cho đến đầu năm 1977, gần 20 tượng Phật Thích Ca và Quán Thế Âm bị phá hủy bằng chất nổ, bằng búa, thủ tiêu hoặc vứt xuống sông. Như các trường hợp xẩy ra tại các chùa Tỉnh hội ở Gia Lai, Kontum, Ban Mê thuộc, chùa Vạn Hòa ở Kiên giang, chùa Khánh Minh ở Cần giuộc, chùa Thiền Tôn ở Minh Hải, Niệm Phật đường trong bệnh viện Nguyễn Văn Nhựt, v.v...


Bây giờ Dân khinh đáo để

Ðại lão Hòa thượng Thích Ðôn Hậu ở miền Bắc trở về Nam thấy tình hình đàn áp nhân quyền nói chung và khủng bố Phật giáo nói riêng, đã phải thán lên trong băng hồi niệm mà ngài cho ghi âm, hiện chúng tôi còn giữ, rằng : "Tình đoàn kết, thương yêu, kính trọng của nhân dân miền Nam chỉ được 10 ngày. Sau 10 ngày ("giải phóng") : tình đoàn kết tan rã, lòng yêu thương đổi thành ghét cay ghét đắng, sự kính trọng bây giờ người dân trở lại khinh đáo để".

Dù tình hình khó khăn khốc liệt như thế, nhưng Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vẫn nghĩ đến sự đóng góp phần mình vào cuộc tái thiết quê hương sau thời chiến, nghĩ đến việc thống nhất khối lượng Phật giáo đồ hai miền Nam Bắc, y như thời đất nước chưa bị Hiệp định Genève qua phân, để chấn chỉnh đạo đức, bảo vệ nền hòa bình dân tộc, băng bó vết thương tranh chấp, bất hoà, và bài trừ các tệ nạn xã hội. Viện chúng tôi đã cẩn thỉnh Ðại lão Hòa thượng Thích Ðôn Hậu đại diện đến gặp ông Nguyễn Văn Hiếu, Bộ trưởng bộ Văn hóa, trình bày sự việc. Nhưng ông Hiếu trả lời : Thống nhất rất tốt, nhưng không thống nhất với Phật giáo phản động. Hỏi Phật giáo phản động là ai ? Ông Hiếu không trả lời. Phải chăng ông Hiếu và chính quyền Cách mạng không muốn cho Phật giáo đồ Bắc Nam Trung thống nhất trong lẽ Ðạo, mà chỉ nhằm bắt họ "thống nhất" với chính trị ?

Những ai không chịu thế tục hóa đạo Phật liền bị bắt nhốt, bị chụp cho đủ thứ mũ. Hiện trạng mà năm 1977, tôi cùng các vị lãnh đạo cao cấp và trung cấp trong Viện Hóa Ðạo, như quý Thầy Thiện Minh, Quảng Ðộ, Trí Giác, Thông Huệ, v.v... bị bắt giam ở Phan Ðăng Lưu. Cuối năm 1977, Hòa thượng Thích Thiện Minh bị tra tấn đến chết trong tù, Giáo hội xin nhận thi hài làm lễ an táng, thì bị từ chối. Hai năm sau, tất cả chúng tôi bị đưa ra tòa xét xử mà vẫn không biết mình phạm tội gì. Bởi chỉ đứng nghe lời vu cáo phán quyết, không được quyền tự biện hộ, cũng chẳng có luật sư bảo vệ như tại các nước văn minh tôn trọng pháp quyền. Người lãnh án treo, người tha bỗng, người bị 2 năm, 3 năm, 7 năm tù.


Nền "Phật giáo Nước nhà" biến thành "Phật giáo Nhà nước"

Cuối năm 1981, Ðảng và Nhà nước dựng lên tổ chức Phật giáo làm công cụ cho chính trị, bỏ tinh thần thống nhất đặc thù của Phật giáo Việt Nam để thu hình vào danh xưng "Giáo hội Phật giáo Việt Nam". Từ phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX, suốt 70 năm qua, tâm nguyện chúng tôi hành trì cho cuộc thống nhất nền Phật giáo Nước nhà, thì nay Ðảng nắn dựng ra tổ chức Phật giáo Nhà nước. Vì vậy mà chúng tôi phản đối. Việc Giáo hội là của chư Tăng Ni và Phật tử quyết định, cớ sao Ðảng lại nhúng tay sắp đặt và quyết định thay cho hàng giáo phẩm Giáo hội và quần chúng Phật tử ? Báo chí Ðảng và Nhà nước dựa vào vài Tăng sĩ tên tuổi làm bình phong trấn an quần chúng trong nước và dư luận thế giới. Nhưng ngoài những người đội lốt Tăng già, còn lại là những trường hợp cá nhân bị bó buộc, bị lũng đoạn, thúc ép, hoặc nhiều vị lâm cảnh giả dại qua ải. Khiến Phật tử toàn quốc khổ tâm chứng kiến cảnh : Một Giáo hội Nhà nước đã chết mà chưa chôn ! Một Giáo hội Dân lập (Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất) đã chôn mà vẫn sống !

Giáo hội là nơi tập họp những người mang cùng chí nguyện đem lại Chân, Thiện, Mỹ và giải thoát khổ đau cho đời. Không thể là nơi hoan hô, đả đảo suốt ngày. Vì vậy chúng tôi từ khước hình thức và nội dung của một Giáo hội công cụ. Thế là ngày 25.2.1982, tôi nhận Quyết định số 71/QÐ-UB của Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Minh Ðạm, Phó giám đốc Công an thành phố và ông Lê Quang Chánh, thay mặt Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố ký, trục xuất tôi ra khỏi thành phố Saigon. Áp giải về quản thúc tại tỉnh Nghĩa Bình từ đó đến nay. Bản Quyết định ghi tội danh của tôi là "lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc (...), gây nguy hại và an ninh trật tự của thành phố". Lấy quyền gì mà Ủy ban Nhân dân Thành phố quyết định, bắt giam, lưu đày một tu sĩ cũng là công dân như tôi, chẳng cần thông qua sự xét xử của bất cứ tòa án nào. Cung cách ấy có là tôn trọng pháp quyền chăng ? Cùng bị bắt, cùng bị đưa về nguyên quán quản thúc như tôi, còn có Hòa thượng Thích Quảng Ðộ giải về Thái Bình ở miền Bắc.


Dân biết, dân câm họng. Ðảng biết, đảng bỏ tù

Năm 1992, Ðại lão Hòa thượng Thích Ðôn Hậu viên tịch tại chùa Linh Mụ ở Huế. Cuối tháng 4 năm ấy, tôi xin phép ra Huế thọ tang Ngài cùng với chư tôn Giáo phẩm cao cấp, trung cấp của Giáo hội và Tăng Ni, Phật tử quy tập về từ các miền Nam, Trung, Bắc. Tại lễ điếu này, tôi được chư vị Giáo phẩm có mặt, chiếu Chúc thư của cố Ðại lão Hòa thượng Thích Ðôn Hậu, ủy nhiệm tôi làm Quyền Viện trưởng Viện Hóa Ðạo, để cùng với nhị vị Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, Thích Pháp Tri lãnh đạo Giáo hội vận động phục hồi quyền sinh hoạt cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và tổ chức Ðại hội VIII để bổ sung nhân sự lo việc hoằng pháp lợi sanh.

Tiếp nhận ấn tín của Giáo hội và trọng trách chư Giáo phẩm giao phó, về lại Quảng Ngãi tôi viết "Ðơn xin cứu xét nhiều việc" đề ngày 25.6.1992 bao gồm 9 yêu sách gửi các ông Tổng bí thư Ðảng, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Tối cao Pháp viện và Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc. Lạ thay, thư không được hồi âm. Không bao giờ được hồi âm, những thư trước đó cũng như nhiều thư sau này. Ðảng và Nhà nước thường tuyên bố nền dân chủ Xã hội Chủ nghĩa dân chủ một triệu lần hơn các nước dân chủ tư sản phương Tây. Sao lại giữ thái độ xem thường tiếng kêu cứu của người dân như thế ? Khẩu hiệu tuyên truyền của Ðảng và Nhà nước là "dân biết, dân làm, dân kiểm tra" còn mang ý nghĩa gì nữa ?

Sự trả lời gián tiếp mà chúng tôi nhận được là hai tài liệu "Mật" mang số 125/TUDV của Ban Dân vận và "Tuyệt Mật" mang số 106/PA 15-16 của cơ quan Công an Bộ Nội vụ vào năm 1993. Hai tài liệu này chỉ thị cán bộ công an và tôn giáo vận "cắt đứt tay chân" và lấy "giáo luật, pháp luật" cô lập tôi và chống hàng giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mà tài liệu gọi bằng danh xưng không mấy lễ độ và rất thiếu chính trị "Bọn phản động Phật giáo Ấn Quang" !

Phản động hay không phản động chỉ là cách Ðảng phân chia thù bạn. Chứ trong thực tế, tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, chẳng ai thoát khỏi sự kìm kẹp, hạn chế tối đa nếu không nói là ức chế của những sắc luật, nghị định, hướng dẫn về tôn giáo.

Suốt hai ngàn năm lịch sử Việt, ở vào các triều đại tự chủ và độc lập, Phật giáo chưa bao giờ nhận các loại Sắc luật dành cho tôn giáo như thế. Từ Nghị định 297/CP, rồi 69 của Hội đồng Bộ trưởng năm 1991 đến Nghị định 26/1999/NÐCP, từ các Chỉ thị, Hướng dẫn 379/TTG, 500/HD/TGCP đến Hướng dẫn Nghị định 26 của Ban Tôn giáo Chính phủ hôm 16.6.1999, 25 năm ròng rã vừa qua tất cả các tôn giáo, các người có tín ngưỡng đều buộc phải đứng sắp hàng nghe Nhà nước dạy bảo qua Ban Tôn giáo Chính phủ về những điều chẳng dính líu chi đến chuyện tín ngưỡng, chuyện giác ngộ hay giải thoát khỏi vô minh, khổ nạn. Chẳng có gì gọi là tự do cả.

Ðấy là tình trạng và hoàn cảnh người dân nói chung, người tu sĩ và Phật tử nói riêng chịu đựng trong ức chế và khốn cùng tại miền Nam 25 năm qua, tại miền Bắc 45 năm qua.


Phục hồi quyền sinh hoạt của GHPGVNTN, trả tự do cho tù nhân tôn giáo và bãi bỏ Nghị định 31/CP

Con chim sắp chết tiếng nó kêu thống thiết. Người lão tăng sắp về cõi Phật như tôi không nói lời gian dối : Ðảng và Nhà nước không thể mãi mãi che đậy những lỗi lầm của mình để làm chuyện thất đức, mà hậu quả khiến nhân dân bần cùng, tôn giáo bị đàn áp, trí thức mất tự do tư tưởng, nhà báo mất tự do ngôn luận, văn nghệ sĩ mất quyền sáng tạo, người lao động không tự do nghiệp đoàn...

Ðã đến lúc cần chấm dứt tình trạng làm cho dân nghèo nước yếu, nhân tài và trí thức tiêu ma.

Ðối với Phật giáo, chúng tôi yêu sách Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phải được phục hồi quyền tự do sinh hoạt trên pháp lý hiện hành, vốn được quy định và bảo đảm tại Hiến chương, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của LHQ. Các Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni, Phật tử sau khi được trả tự do phải được phục hồi hộ khẩu, quyền công dân và quyền tự do hành đạo ; bãi bỏ Nghị định 31/CP để chấm dứt vĩnh viễn chế độ quản chế hành chính phi luật pháp khiến kẻ được trả tự do vẫn thấy như mình bị dẫn độ từ nhà tù nhỏ sang nhà tù lớn, khiến ai nấy nơm nớp lo âu bị bắt vô cớ bất cứ lúc nào. Các Tăng sĩ, Phật tử còn bị giam giữ hay quản chế phải được trả tự do và giải chế. Nếu xét thấy họ có tội, thì đưa ra xét xử công khai trước một tòa án với quyền bào chữa của luật sư do họ chọn lựa, cùng sự hiện diện của báo chí quốc tế.

Ngoài ra, chúng tôi xin trả lại "chiếc mũ phản động", "chiếc mũ phá hoại", "chiếc mũ vu cáo chống đối" cho những ai chụp lên đầu chúng tôi. Ðạo Phật là đạo thực hành sự Giác ngộ và Cứu khổ. Ðạo Phật là đạo xây dựng một cõi người nhân ái và huynh đệ Ðạo Phật không chống đối những tư tưởng thời đại, vì những tư tưởng ấy sẽ theo thời đại đi qua. Ðạo Phật lấy Chánh Kiến soi sáng các thiên kiến, tà kiến mà thôi.


Linh quyền cho người chết và Nhân quyền cho người sống : 3 lời đề nghị

Kỷ niệm 25 năm chấm dứt chiến tranh, theo tôi nghĩ, Ðảng và Nhà nước nên làm chuyện có một không hai, chuyện không ai dám làm, ngoại trừ kẻ có hùng tâm tráng chí. Ấy là thực hiện ba nghĩa cử văn minh :

Thứ nhất, chấm dứt vĩnh viễn sự gây chiến trong ý nghĩ (tư duy) cũng như trong hành động, đối với mọi thành phần dân tộc và tôn giáo ngoài đảng Cộng sản. Sự gây chiến ấy đã từ lâu hóa trang bằng chủ trương đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản ;

Thứ hai, lấy ngày 30.4. làm "Ngày Sám hối và Chúc Sinh toàn quốc". Sám hối với người chết và Chúc Sinh người sống. Các nước dân chủ Tây phương làm cuộc sám hối các lỗi lầm hằng ngày, qua cơ chế tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do phê phán để chính quyền sửa sai. Một tôn giáo lớn của phương Tây như Giáo hội Công giáo, mà vừa đây đức Giáo hoàng cũng phải làm cuộc Thống hối các sai lầm bức tử và bạo động của Giáo hội dọc hai ngàn năm qua đối với đồng loại và các tôn giáo khác. Có thể nào Ðảng và Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa dám khẳng định không vi phạm sai lầm trong 55 năm qua ? Bao nhiêu lời tả oán từ hai cuộc chiến, trong Cải cách ruộng đất, trong Tổng tiến công Tết Mậu thân ở Huế, trong các vùng Kinh tế mới, và tại các Trại tập trung Cải tạo. Dù chối bỏ cách nào chăng, vẫn khó tránh né một thực tế, là oan hồn bị bức tử đếm không xiết. Ðảng và Nhà nước hãy xót thương những người chết, hãy nghĩ đến Linh quyền của họ mà Sám hối và làm lễ Cầu Siêu cho vong hồn họ thôi vất vưởng gọi kêu báo oán.

Linh quyền cho người chết. Nhân quyền cho người sống, đây là ý nghĩa của lễ Chúc Sinh. Xưa các vua chúa Tế Trời mỗi năm ở đàn Nam giao cầu cho quốc thái dân an. Nay ở thời đại mới, Nhà nước nên áp dụng luật pháp bảo đảm các quyền tự do căn bản về dân sự và chính trị cho mọi công dân, như một cách Tế thờ Người.

Thứ ba, ban hành thành Sắc luật trong việc tìm kiếm thi hài kẻ chết trận, dù họ thuộc bộ đội miền Bắc hay binh sĩ miền Nam để chôn cất và trả nghĩa cho gia đình họ khỏi ngậm ngùi; trả tự do cho toàn bộ những người tù vì chính kiến hay tôn giáo ; phục hồi danh dự những kẻ chết oan, và cấp dưỡng xứng đáng những người tàn tật vì chiến tranh, không phân biệt Nam Bắc, chính kiến.

Làm được ba điều nói trên cùng với việc tôn trọng quyền tự do sinh hoạt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chiến tranh mới thực sự chấm dứt, cuộc lễ 25 năm mới mang ý nghĩa khởi đầu cho cuộc hòa hợp dân tộc thực sự.

Mong lắm thay.
Trân trọng chào quý Ngài.



Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
(ký tên)
Tỳ kheo Thích Huyền Quang



Bản sao kính gửi :
- Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, Viện trưởng Viện Hóa Ðạo "để kính tường"
- Văn phòng II Viện Hóa Ðạo tại Hoa Kỳ "để tri tường"
- Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế tại Paris "để phổ biến"
- Hồ sơ lưu.

Hoa giai (NVC)

Hòa Giải

Giáo sư Nguyễn Văn Canh
2007

Mới đây Võ văn Kiệt nhắc lại cần phải có hòa giải với người Việt hải ngoại. Nhân dịp này, tưởng cũng nên xét xem Kiệt nói gì và cũng nên trình bày quan niệm của các quốc gia Âu Châu đang làm gì để thực hiện thực sự hòa giải dân tộc của họ, ví đó là bài học mẫu cho Việt nam trong tương lai.


HÒA GIẢI DO VÕ VĂN KIỆT ĐỀ NGHỊ

Ngày 7 tháng 12, 06 vừa qua, trả lời phỏng vấn của tờ báo Việt Weekly ở hải ngoại, Võ văn Kiệt kêu gọi: “ hòa giải là quan trọng ”;

Muốn như vậy, phải “ngồi lại với nhau”, để làm cho “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.“ Cứ cố chấp với nhau, dân tộc không lớn mạnh lên được
Nguyên do: cần phải hòa giải là “vì dân tộc là tối thượng” và đặc biệt là để giúp cho dân giầu, nước mạnh.

Kiệt biện minh rằng Mỹ và Việt cộng là kẻ thù trước đây, nay đã “khép lại quá khứ” để “hòa bình hữu nghị để cùng nhau phát triển”.

Phương thức hòa giải là “gặp nhau”, và anh em bên ngoài có tiếng nói để xây dựng.


Điều kiện để hòa giải: nói chuyện sòng phẳng với nhau.

Tuy nhiên Kiệt nhấn mạnh rằng những người chống đối chỉ có ít. Nhiều người (hải ngoại) về….. đóng góp rất lớn cho kinh tế Việt nam; rằng Đảng Cộng sản có công với đất nước và tất cả thể chế đều dựa vào dân và phục vụ nhân dân. Nếu đảng làm được dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì không nhất thiết phải đa đảng.

Đảng đã có vai trò đối với lịch sử của đất nước. Đảng cầm quyền như Đảng CSVN là tin cậy được. Nếu Đảng làm đầy đủ những chuyện đó ( dân giầu, công bằng,dân chủ và văn minh) để ổn định, để phát triển, để thoát nghèo, thì không cần đa đảng.

Phân tích lời tuyên bố của Kiệt.

Tôi đề cập 2 điểm mà Kiệt nêu ra. Đó là khép lại quá khứ và sòng phẳng.

Khép lại quá khứ.

Quá khứ là gì mà kêu gọi khép lại? Đó là những gì đã xảy ra, nhưng làm trở ngại cho tình trạng tốt đẹp theo ý muốn của Đảng Cộng sản, dù đã cầm quyền trên 30 năm ở Miền Nam và quá ½ thế kỷ ở Miền Bắc. Những điều ấy đã gây ra hận thù giữa hai phía: nhà cầm quyền Cộng sản và người Việt ở hải ngoại. Khi nêu vấn đề này, người ta hiểu rằng những tội ác mà Đảng Cộng sản ở vị trí thống trị đã gây ra, nên được bỏ qua, và người Việt hải ngoại thôi, đừng căm thù người Cộng sản nữa.

Những tội ác đó là đấu tố man rợ trong chương trình Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt trước đây; là giết người tập thể hồi Tết Mậu Thân và sau 1975, là đánh tư sản mại bản, tiêu diệt tư sản dân tộc, là cưỡng bách dân đi vùng kinh tế mối, là lập trại tù cải tạo để đầy ải 500,000 quân cán chính Việt nam Cộng Hòa; là buôn bán tị nạn vào thời kỳ cuối 1970 và đầu 1980 nhằm cướp bóc vàng bạc, tài sản của họ, khiến hàng triệu người phải chạy trốn khỏi chế độ tàn bạo của Công sản và làm cho khoảng 300,000 người chết trên biển cả… Vậy, theo Kiệt thì cái quá khứ đau buồn đó nên xóa đi và khép lại để bắt đầu một giai đoạn mói, cùng với Đảng xây dựng một xã hội giầu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh.

Động lực hòa giải là gì?

Đó là giúp cho ổn định về chính trị để Đảng xây dựng đất nước. Những âm mưu diễn tiến hòa bình do đế quốc và “tay sai” đế quốc thực hiện, như thế làm mất ổn định và gây ra khó khăn, cản bước tiến của Đảng trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa, vì có cản trở này mà hơn 30 năm qua ( tại Miền nam) Đảng chưa đạt được mục tiêu là dân giầu nước mạnh xã hội công bằng và văn minh, dù đã được quốc tế viện trợ gần 40 tỉ Mỹ Kim, hơn 20 tỉ MK do tị nạn gửi về, và chừng 50 tỉ MK ngoại quốc đầu tư. Đảng cần khoảng 140 tỉ MK nữa mới được. Ổn định có nghĩa là đừng chống lại Đảng và mặt khác là kêu gọi tị nạn hợp tác bằng cách mang tiền của và chất xám về giúp Đảng để hoàn thành mục tiêu của xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1986, Đảng đã ý thức rằng người Việt ở hải ngoại có một tiềm năng lớn nghĩa là có nhiều tiền. Năm ngoái hơn 2 triệu người Việt hải ngoại gửi về Việt nam khoảng 4 tỉ Mỹ Kim. Đảng đã thiết lập Cơ Quan phụ trách người Việt ở nước ngoài với nhiều chương trình, hoạt động thu hút họ về giúp Đảng nhiều hơn nữa. Võ văn Kiệt nói rằng chỉ có một ít người cực đoan chống đối, làm hại cho đất nước. Càng ngày càng có nhiều người về tham gia vào lãnh vực này hay lãnh vực khác về kinh tế, văn hóa, rồi kỹ thuật, đóng góp rất lớn cho kinh tế Việt nam.

Khép lại quá khứ như vậy là để anh em bên ngoài có tiếng nói xây dựng. Mỗi người đều có trách nhiệm của mình; dân tộc là của chung, không phải là của riêng người cầm quyền hiện giờ.

Tuy nhiên, trong lãnh vực chính trị, Kiệt nhấn mạnh rằng cần phải có ổn định, cần tập hợp được sức mạnh của dân tộc, phải đại đoàn kết, như vậy có nghĩa là dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kiệt nói rõ rằng không cần có đa đảng mới có thể giầu mạnh, khi đề cao Đảng Cộng sản hoạt động vì dân tộc, vì đoàn kết của dân tộc; Đảng dựa vào dân và phục vụ nhân dân. “Nếu Đảng làm đầy đủ mục tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh thì Đảng CSVN tín cậy được, không nhất thiết phải đa đảng mới xây dựng được đất nước của mình. Một Đảng mà làm đầy đủ hết mấy điều này, tôi nghĩ là được.” Kiệt còn nói trắng ra rằng vì dân tộc, đảng đã có công với đất nước. Vì có công đó, “thì 3 triệu Đảng viên phải có chỗ đứng trong xã hội.”

Kiệt nhắc tới 19 lần chữ ‘dân tộc’ khi trả lời vài câu hỏi ngắn, và cũng như Hồ chí minh đã dùng chiêu bài dân tộc để lôi cuốn mọi người vào chiến đấu cho mục tiêu của Đảng.

Để biện minh là cần để cho “quá khứ qua đi”, Kiệt so sánh việc Mỹ và VC “khép lại quá khứ” Để làm gì:? “để hợp tác với nhau, cùng phát triển.”

Vậy nếu Mỹ không khép lại quá khứ, thì Mỹ sẽ không phát triển được và bị tụt hậu hay sao? Ngoài ra, tôi không biết kiến thức của Kiệt ở mức nào khi so sánh Mỹ và VC với hai bộ phận người Việt (hải ngoại và chính quyền VC) trong trường hợp này?

Không biết rằng Mỹ khép lại quá khứ hay VC khép lại quá khứ? Người ta biết rằng truớc khi được ký Thỏa Hiệp Thương Mại bình thường vào năm 2001 và nhất là trước khi Mỹ cho VC vào Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế, VC phải nhẫn nhục, đeo đẳng trong 12 năm Mỹ mới cho vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới ấy. VC đã phải chạy đua với thời gian: cam kết giải tán dần các lãnh vực quốc doanh mà Đảng độc quyền, giải tán các đại công ti mà Đảng làm chủ. Năm 2005 và 2006, Quốc hội VC phải sửa đổi hay làm ra hàng trăm đạo luật theo đòi hỏi của Mỹ. Các đòi hỏi đó làm cho thương thuyết gia VC phải kêu trời rằng “quá mức” và “quá khó khăn, bắt ép nhiều quá.” Cụ thể thì vì tuân theo các đòi hỏi của Mỹ, cán cân mậu dịch của VC vào năm 2005 được lợi hơn 5 tỉ MK. Nếu nói ngược lại, thì Mỹ thua hơn 5 tỉ. Như vậy là Mỹ hợp tác với VC để được cùng phát triển với VC hay ngược lại?

Kiệt còn nói quá trình đấu tranh của người Cộng sản là vì đất nước, dân tộc trên hết, không vì “bạn bè”. Vậy câu hỏi là tại sao Đảng Cộng sản: nhượng đất cho ngoại bang qua các hiệp ước trên bộ với 5 dãy núi tại huyện Yên Minh và Vị Xuyên, Hà Giang , và 2 dãy núi tại huyện Tràng Định và khu vực Bình Độ 400 thuộc huyện Cao Lộc, Lạng sơn? Không vì bạn bè thì tại sao Đảng CS đã hiến dâng cho Ngoại Bang 11, 000 cây số vuông trong Vịnh Bắc Việt, cho ngoại bang vào khai thác tài nguyên trong Vịnh, chưa kể đến việc ngoại bang vào trong nội lãnh hải bắn giết ngư dân Việt nam? Tại sao Đảng cho ngoại bang cùng khai thác dầu khí trên Biển Đông và đây là một hình thức nhượng ½ lãnh hải cho ngoại bang? Như vậy có phải là vì dân tộc hay vì bạn bè trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Sòng phẳng:

Kiệt nhấn mạnh tới điều kiện “sòng phẳng” khi “gặp nhau” để làm yên lòng người Việt hải ngoại., “không nên cố chấp, vì như thế là làm hại cho đất nước, dân tộc không lớn mạnh lên được”. Thế nào là sòng phẳng và Ai sòng phẳng với ai? Sòng phẳng là ngay thẳng, không lừa dối, ngồi ngang hàng đối thoại tìm ra giải pháp mà hai bên thấy công bằng. Trường hợp này, tị nạn đi về đầu tư phải tuân theo qui định kể cả các tráo trở của VC. Họ không ở vị trí có thể lừa chính quyền VC được, vì tị nạn không có quyền lực gì để mà thương thảo, để nói dối hay lừa gạt. Tị nạn chỉ có một quyền duy nhất là “mang tiền của hay chất xám về đầu tư ”, một điều mà VC rất cần, và vì thế VC mới nêu vấn đề hòa giải. Vậy, VC phải tỏ ra sòng phẳng vì nắm quyền hành trong tay hay nói khác đi ‘nắm con dao đằng chuôi, tị nạn cầm đằng lưỡi.’

Có lẽ cũng nói về vấn đề sòng phẳng, vậy câu hỏi là trong Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Kỳ IV vừa qua, Đảng Cộng Sản vẫn kiên quyết tiến lên xã hội chủ nghĩa, vẫn kiên quyết giữ nguyên quyền hành độc đảng và không thay đổi thể chế và vẫn giữ lề lối nguyên sinh hoạt của mình. Và câu hỏi là vẫn giữ nguyên trạng thì Đảng có toàn quyền như đã cướp tiền của tị nạn Trịnh vĩnh Bình ở Hòa Lan. Khi nước này bênh vực công dân của họ trong vụ kiện CHXHCNVN đòi bồi thường thiệt hại vì vụ ăn cướp này và đã thắng kiện. Câu hỏi là Nhà Nước CHXHCNVN đả trả số tiền lên đến hàng trăm triệu MK cho Trịnh vĩnh Bình chưa? Phải trả tiền cho nạn nhân mới là sòng phẳng!

Khi làm Thủ tướng ký nghị định CP/31 cho phép các cơ quan chính quyền địa phương bắt giam người vô tội vạ và giam tù người mà Đảng không thích trong một thời gian dài. Nay, Kiệt bị hất ra khỏi chính quyền thì kêu gọi hòa giải, nghĩa là không có quyền hành gì mà đòi hòa giải và hòa giải bằng cách nào? Bao nhiêu người bị bắt giam vì Nghị định này. Quốc tế phẫn nộ vì óc thủ cựu, bảo thủ muốn giữ độc quyền cai trị cho Đảng mà ban hành nghị định đó.

Rồi Đảng kêu gọi khép lai quá khứ, nghĩa là Đảng kêu gọi tị nạn làm như vậy, còn Đảng thì được miễn hay sao? Đất nước là của chung và tị nạn được quyền góp ý, đươc có tiếng nói xây dựng như Kiệt nói. Vậy làm sao góp ý hay “ có tiếng nói” được, khi Đảng cố chấp và còn biết bao nhiêu người còn bị tù và bị quản chế vì sự góp ý của mình. Ngoài ra, Đảng còn mang cả nhà nước CHXHCNVN đòi Mã Lai, Nam Dương phá hủy các đài kỷ niệm của tị nạn, dù các đài ấy nằm tại các đảo hoang vu của các quốc gia này. Con người “văn minh” không làm như Đảng CSVN làm. Vậy, Đảng không sòng phẳng hòa giải với cả nhưng vật vô tri như các đài kỷ niêm này thì làm sao hòa giải với người Việt hải ngoại?

Vừa mới đây, Đảng cũng không sòng phẳng để hòa giải với các người đã chết như xóa bỏ nghĩa trang quân đội VNCH ở Biên Hòa. Nghĩa trang ấy là vết tích của chiến tranh, do Việt nam Cộng Hòa xây để an táng những người đã bỏ mình cho chính nghĩa của dân tộc. Như vậy Đảng vẫn nhớ, vẫn còn “căm thù” những người Miền Nam khi còn sống đã chống Đảng dù nay họ đã nằm xuống. Đảng đã không quên những người ấy, dù họ nằm yên nghỉ dưới các nấm mồ, dù họ không có cách gì chống lại Đảng được. Mà thật là vô cùng nhẫn tâm khi Đảng cho dẹp nghĩa trang đó với danh nghĩa “dân sự hóa” để xây dựng một khu du lịch hay thiết lập một khu kinh tế kiếm lời!

Khi mời gọi tị nạn về hợp tác, Kiệt nhấn mạnh rằng “đất nước là của chung, không phải là của chính quyền hiện hữu, và đây là cơ hội cho “người hải ngoại có tiếng nói xây dựng.”

Vậy có 2 điều được nêu ra::

1. Tại sao kêu gọi người Việt hải ngoại ngồi nói chuyện (có vẻ như ngang bằng với chính quyền VC), cho người hải ngoại “có tiếng nói để xây dựng” trong khi đó người trong nước thì không, và còn bị đàn áp ? Đó là các nhà tu kêu gọi Đảng là cho tự do hành đạo; các nhà báo nói với Đảng cho tự do ngôn luận, tự do báo chi; các người yêu tự do dân chủ kêu gọi có dân chủ; có người gửi đơn đến Đảng xin lập hội; còn dân oan nằm ngủ la liệt, có khi hàng năm ở vường hoa Mai xuân Thưởng nói với Đảng về tài sản đất đai của họ bị cướp đoạt trái phép hoặc đòi hỏi bồi thường đúng mức, nghĩa là công bằng xã hội; công nhân thì nói về áp bức và bóc lột của chủ nhân ngoại quốc, có sư đồng lõa của Đảng… Tất cả đều có tiếng nói xây dựng theo những gì mà Đảng tuyên bố công khai và mục đích là để tiến tới xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Và tất cả đều bị đàn áp một cách thẳng tay, dù không có ai gây ra xáo trộn. Họ có làm gì gây bất ổn đâu.

2. Để hòa giải với người Việt hải ngoại, Đảng phải hòa giải với nhân dân trong nuớc trước đã. Tại sao không hòa giải với các Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, Hội trửơng Hòa Hảo Lê quang Liêm , các chức sắc Hòa Hỏa, Cao Đài, các Linh mục Nguyễn văn Lý, Nguyễn hữu Giải, Phan văn Lợi và các thành viên khối 8406, các mục sư Tin Lành, với Bác sĩ Nguyễn đan Quế, với hiệp hội đoàn kết công nông, Ls Lê thị Công Nhân., Ls Nguyễn văn Đài, nhà báo Nguyễn vũ Bình, luật gia Lê chí Quang, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, với hội Dân Oan, với BS Phạm hồng Sơn, nhà báo Nguyễn vũ Bình v.v. Cũng phải hòa giải với các người mà Cộng sản tịch thu ruộng đất và đất đai của họ một cách bất công, v.v.?

Tóm lại về thực chất thì hòa giải của Kiệt là kêu gọi người Việt hải ngoại mang tiền của về giúp VC, dù Kiệt nhân danh dân tộc, vì dân tộc, nên xóa bỏ hận thù, hãy để quá khứ qua đi để hòa giải với nhau. Như thế là thực hiện đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng trong mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa y như Hồ chí Minh đã đánh lừa cả dân tộc về vấn đề này. Những gì mà Kiệt nêu ra chỉ là lừa bịp những người hoặc là nhẹ dạ hoặc là ngu tối, y như trước kia đã có biết bao nhiêu người bị Hồ chí Minh nêu những chiêu bài dân tốc đó để đánh lừa.

HÒA GIÀI CỦA CỘNG ĐẦNG ÂU CHÂU VỚI NGHỊ QUYẾT 1096

Bây giời tôi nói tới biện pháp hòa giải của Cộng Đồng Âu Châu qua NQ 1096 mà các quốc gia cựu cộng sản Âu Châu đã và đang áp dụng.

Ngoài việc NQ 1096 đòi hỏi phải cải tổ toàn thể hệ thống để hủy diệt các di sản của tội ác do Cộng sản để lại, các quốc gia cựu cộng sản hay cựu độc tài phải thực thi một số công tac như sau:

- Tại Đông Ấu, người ta đã và đang truy tố các thủ phạm là Cộng sản đã phạm các tội ác như giết người và cướp tài sản của dân làm tài sản riêng của mình. Truy tố các thủ phạm phải đi đôi với phục hoạt đối vơi những người mà chính quyền Cộng sản đã kết án về những tội mà các xã hội văn minh không coi là hình sự; và phục hoạt cả cho những người bị kết án bất công và bồi thường thiệt hại và phục hồi nhân phẩm những người đó.

-Một biện pháp khác mà Ba Lan, Đức quốc, Lỗ Mã Ni …đang làm là mở các hồ sơ mật của những người trước kia đã làm mật vụ cho Cộng sản. Họ đã moi ra các giám mục, linh mục, các bác sĩ, nhà văn, giáo sư, luật sư v.v. và phơi bày tên của những người này cho công chúng biết. Vài tuần lễ mới đây, trường hợp Hồng Y Stanislaw Weilgus phải từ chức Tổng Giám Mục Giáo phận Cracow vì đã làm điểm chỉ viên cho Đảng Cộng sản từ thập niên 1960. Tại Đức, quốc gia này đã thu thập được một danh sách dài của những người làm mật vụ cho Cộng sản: Đến nay đã có 91,000 mật vụ viên được nêu tên và và 300,000 điểm chỉ viên cho Cộng sản Đông Đức.Phơi bày các hồ sơ ấy là đoạn tuyết với quá khứ hay nói khác đi là “để quá khứ qua đi”, khép lại quá khứ như ngôn từ của Kiệt và như thế tiến tới hòa giải thực sự.

-Trả lại tài sản của tư nhân, kể cả của tôn giáo mà cán bộ CS đã cướp của dân hay đã tịch thu bất công trước đây hay bị truất hữu, quốc hữu hóa dưới thời cộng sản trên nguyên tắc phải được giao hoàn nguyên vẹn cho chân chính sở hữu chủ nếu có thể được. Nếu không phải bồi thường cho công bằng.

-Tại Tây Ban Nha, người ta cho phá hủy tất cả những biểu tượng trưng bày tại các nơi công cộng như các tượng lãnh tụ Franco được dựng tại các nơi công cộng như công viên do chính quyền Sapatero thiên tả ở xứ này đã làm như vậy cách đây mấy tháng, dù chế độ Fanco không phải là độc tài toàn trị như độc tài Công sản.
Lý do cắt nghỉa cho việc này là các cay đắng và hận thù đó còn âm ỷ mãi mãi và như vậy làm sao hòa giải trong óc người dân, trong trí óc nạn nhân hay các thân nhân, mỗi khi ra đường họ trông thấy các biểu tượng đó?

Tôi nói rằng đây là giải pháp mà các quốc gia cựu cộng sản tại Âu Châu đang thực hiện để thực hiện hòa giải thực sự trong xã hội của họ. Chính Quốc Hội Âu Châu qua nghị quyết 1096 đã đòi hỏi và các quốc gia cựu cộng sản Đông Âu đang áp dụng giải pháp ấy.

Việt nam cũng sẽ đáp ứng lời kêu gọi chiếu theo điều 14 của Nghị quyết 1481. Điều 14 kêu gọi sưu tầm các tôi ác của vài chế độ hiện còn theo chủ nghĩa độc tài toàn trị như CHXHCNVN, để rồi tiến tới thực hiện hòa giải dân tộc trong nội bộ các quốc gia này bằng cách hủy diệt tất cả di sản tội ác do Công sản gây ra như qui định trong NQ 1096. Rồi đây tại Việt nam các biểu tượng như tượng Lênin đặt tại vườn hoa Canh Nông, Hà nội; lăng Hồ chí Minh tại Ba Đình.cũng phải phá hủy. Làm sao hòa giải được khi mà các nạn nhân còn sống hay con cháu họ nhìn thấy các biểu tượng hận thù đó đứng sờ sờ trước mắt ? Linh hồn các nạn nhân gồm hơn 2 triệu người đã chết bằng nhiều hình thức do VC gây ra đâu có siêu thoát được. Con cháu của những nạn nhân đã chết dĩ nhiên còn ngậm ngùi cay đắng về hành vi tội ác có tính cách man rợ của chế độ toàn trị này gây ra trong suốt thời kỳ mà Đảng cộng sản Việt nam đấu tranh và cầm quyền. Các biểu tượng của tội ác hàng ngày gợi trong óc họ khi phải chứng kiến và nay khêu gợi lại các cảnh những người vô sản giết người khi nắm chímh quyền và cướp đoạt tài sản của họ, chia cho các đảng viên; và các người cách mạng vô sản này lại nhân danh dân tộc, vì dân tộc như Võ văn Kiệt rao giảng.. Họ trở nên giầu có mọt cách bất chính. Có đứa như Đỗ Mười, một vô sản thuần túy, lấy tiền đâu ra mà lại bỏ ra 1 triệu dollars cho quĩ giáo dục. Có đứa lấy hơn 7 triệu MK, công quĩ là tiền viện trợ, đi đánh bạc, nhưng bị thua. Con cháu của chúng lấy máy bay đi Hồng Kông đánh bạc, ăn chơi đàng điếm, mỗi tối thua hay chi tiêu hàng trăm ngàn MK. Vậy cần có biện pháp thích đáng áp dụng đối với họ để mang lại công bằng xã hội mà chính người cộng sản to mồm kêu gọi.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam cũng sẽ phải trải qua tiến trình này. Ngày đó không còn bao xa

Loi keu goi 8: De cuu nguy To quoc, hoi dcs, hay tu giai the

Loi keu goi 8:

Để cứu nguy Tổ Quốc, hỡi đảng Cộng Sản, hãy tự giải thể!



From: LM PHAN Van Loi .

Kinh thua Quy Vi,

Theo guong Duc Giao Hoang Pio XI da ket an chu nghia CS trong thong diep Divini Redemptoris va chu nghia Quoc xa trong thong diep Mit Brennender Sorge,

Theo guong cac Duc Hong Y Stepinac, Mindzenty da len tieng to cao chinh quyen va chu nghia CS,

Theo guong cac Duc Giam Muc Oscar Romero, Helder Camara len tieng chong lai cac che do doc tai

Theo guong Duc Hong Y Jaime Sin huy dong toan dan lat do mot tong thong tham nhung,

cha Nguyen Van Ly cung vua ra Loi Keu goi so 8, keu goi dang CS VN giai the.

Chung toi khong lam chinh tri dang phai, chung toi khong dung bao luc lat do ai, chung toi khong muon danh ghe quyen luc cua bat cu nha cam quyen nao. Nhung chung toi phai lam ngon su cho su that, phai len tieng to cao, ket an va ngan chan moi to chuc hay hinh thuc bat cong, dan ap, boc lot nhan dan va cac ton giao cung nhu vi pham nang ne Nhan quyen.

Kinh goi den quy vi LKG nay, do toi (linh muc Phan Van Loi) ghi lai tu bang cassette do cha Ly trao.

Kinh cam on Quy Vi. LKG nay da duoc nhieu dai hai ngoai doc. Nay chi mong pho bien ban van de Quy vi tin la that cua cha Ly, de quyet tam ung ho cong cuoc dau tranh tai que nha.

Hoa Thuong Thich Thien Hanh cung co ra mot loi keu goi tuong tu. Chung toi se xin goi den Quy Vi khi nao co van van trong tay.

Xin cam on Quy Vi.

Linh muc Phan Van Loi, Hue

--------------------

LOI KEU GOI SO 8

Kính thưa tất cả đồng bào Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước,

Kính thưa tất cả mọi người thiện chí trên thế giới,

Sau đây là Lời Kêu Gọi số 8 của tôi, tức là linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý. Tôi hiện nay giọng nói không được rõ rệt và sức khỏe cũng không được đầy đủ, cho nên sẽ có người đọc thay Lời Kêu Gọi này của tôi. Và tôi sẽ xác nhận vào cuối Lời Kêu Gọi này. Đó là bằng chứng đây là Lời Kêu Gọi thực sự của tôi chứ không phải giả mạo.

(một giọng đọc trong đài phát thanh)

Lời Kêu Gọi số 8

Để cứu nguy Tổ Quốc, hỡi đảng Cộng Sản, hãy tự giải thể!


· Xét rằng đảng Cộng Sản Việt Nam nhiều tài điều khiển chiến tranh nhưng không có khả năng làm cho Đất nước thoát khỏi nghèo đói.

· Xét rằng tự do và dân chủ là hai yếu tố căn bản và quan trọng bậc nhất trong việc tạo dựng hạnh phúc con người và là yếu tố không thể thiếu để kiến tạo một quốc gia phú cường, một gia đình hạnh phúc và một cá nhân sống xứng đáng phẩm giá của mình.

· Xét rằng, như tôi đã khẳng định nhiều lần, không thể có tự do tôn giáo thật sự ở Việt Nam bao lâu đất nước này còn bị cai trị bởi đảng Cộng Sản.

Nay cương quyết đòi hỏi:

1- Để cứu nguy tổ quốc, hỡi đảng Cộng Sản Việt Nam, hãy tự giải thể.

2- Quốc Hội hãy hủy bỏ ngay điều 4 trong Hiến Pháp của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

3- Quốc Hội, Chính Phủ và các ban ngành hành pháp, Ủy ban Nhân dân các cấp tiếp tục điều hành Quốc Gia, ban hành và thực hiện các quyền tự do thực sự cho dân. Hãy tổ chức một cuộc Tổng tuyển cử tự do, công bằng và công khai dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc và các quan sát viên cũng như truyền thông quốc tế.

Kêu gọi tại An Truyền ngày 13 tháng 2 năm 2001

Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý

Quản xứ An Truyền

Thư ký Ủy ban Liên tôn đòi Tự Do Tôn Giáo

cho tất cả các tôn giáo tại Việt Nam

***

Kính thưa tất cả đồng bào và quý vị,

Vừa rồi là Lời kêu gọi của chính tôi. Vì thời giờ cấp bách, tôi có thể bị bắt sau đây vài phút, cho nên tôi không giải thích thêm một vài điều trong Lời kêu gọi ngắn ngủi và rất quan trọng này của tôi.

Tôi đang đấu tranh đòi tự do tôn giáo và tự do dân chủ cho toàn dân Việt Nam. Nhưng bao lâu đảng Cộng sản Việt Nam còn lãnh đạo thì không thể nào có quyền Tự do Tôn giáo thật sự được cũng như không thể nào có những quyền tự do dân chủ chân chính được. Bởi lẽ đó, tôi kêu gọi đảng Cộng sản Việt Nam hãy tự giải thể

Điều thứ hai: trong thời gian đảng Cộng Sản Việt Nam không còn lãnh đạo đất nước nữa, thì Quốc hội, các cơ quan hành pháp, các Ủy ban nhân dân các cấp, các ban các ngành, các sở các phòng cũng như các lực lượng vũ trang vẫn tiếp tục điều hành đất nước này trong trật tự và hòa bình ổn định một cách tạm thời, trong khi Quốc hội tiến hành hủy bỏ điều số 4 Hiến pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam, tức là điều quy định đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo trên đất nước Việt Nam. Khi hủy bỏ điều 4 của Hiến pháp ấy rồi, thì Quốc hội sẽ tiến hành tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ như đại đa số các nước trên thế giới đã và đang tổ chức.

Trong khi đảng Cộng sản Việt Nam không còn lãnh đạo đất nước này, thì cuộc sống của nhân dân vẫn được tiếp tục điều hành một cách ổn định và trật tự . Tôi phải nhấn mạnh điều này để Cộng sản Việt Nam khỏi phải lợi dụng tuyên truyền xuyên tạc rằng tôi là người kêu gọi sự hỗn độn, gây rối trật tự trị an.

Vậy tôi cũng kêu gọi tất cả những người Cộng sản Việt Nam đang tham gia trong các cơ quan chính quyền các cấp, đang tham gia trong Quốc hội, đang tham gia trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hãy vì lương tâm của mình, mà tiếp tục điều hành đất nước này sao cho ổn định trật tự hài hòa.

Tôi xin cám ơn tất cả mọi người thành tâm thiện chí đã thông hiểu, cầu nguyện và lắng nghe Lời kêu gọi khẩn thiết này của tôi. Tôi nghĩ rằng đây là con đường duy nhất để đem lại hạnh phúc, ấm no, giàu mạnh cho đất nước quê hương chúng ta một cách thật sự và bền vững lâu dài. Xin cám ơn tất cả mọi người.

Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý